Vì sao phần lớn người học tiếng Anh dừng lại ở trình độ trung cấp?

Trong bốn người học đạt tới trình độ trung cấp ở ngôn ngữ thứ hai, chưa tới một người đi tiếp lên trình độ cao cấp (McQuillan, 2019). Những người học đó ngừng tiến bộ vì họ không nhận đủ tiếng Anh mà mình hiểu được. Một số người học gọi giai đoạn này là "vùng chững trung cấp".

Con số một phần tư này tôi đã nêu trong một bài viết năm 2019 về việc có rất ít người học hết khóa ngôn ngữ (McQuillan, 2019), dựa trên dữ liệu hoàn thành của Nielson (2011). Các nghiên cứu về ghi danh ở trường phổ thông và đại học Hoa Kỳ cũng cho thấy cùng một kiểu bỏ dở sớm (Dupuy & Krashen, 1998, Furman, Goldberg, & Lusin, 2007, và Draper & Hicks, 2002).

Tuổi tác của bạn không gây ra vùng chững này, và việc thiếu năng khiếu ngôn ngữ cũng không.

Vùng chững trung cấp là gì?

"Vùng chững trung cấp" là giai đoạn mà tiến bộ trong ngôn ngữ thứ hai có vẻ chậm lại sau khi tiến nhanh lúc đầu. Phần lớn người học ở giai đoạn này đọc được chút tiếng Anh và hiểu được khi người ta nói chậm.

Nhưng nhiều người học trung cấp không hiểu được một người Mỹ nói qua điện thoại với tốc độ bình thường hoặc nhanh. Khi được đề nghị kể một câu chuyện mà không dừng lại nghĩ, họ cũng không làm được.

Trình độ Thời gian học → Sơ cấp Trung cấp (vùng chững) Cao cấp phần lớn dừng lại ở đây
Hình 1. Năng lực ngôn ngữ thứ hai của người lớn tiến nhanh lúc đầu rồi tiến chậm hơn nhiều ở giai đoạn trung cấp, khi người học không còn tìm được đủ tiếng Anh dễ hiểu (Krashen, 1985).

Người học ở giai đoạn này thường tự trách mình. Dr. Lucy Tse đề nghị sinh viên viết về chính lớp ngôn ngữ của họ, và bà thấy cùng một kiểu "tự trách" lặp đi lặp lại trong những gì họ viết (Tse, 2000). Nhưng nghiên cứu cho thấy vấn đề không nằm ở bạn. Vấn đề nằm ở phương pháp bạn đang dùng.

Vì sao tiến bộ có vẻ chậm lại ở trình độ trung cấp?

Lý do chính khiến tiến bộ có vẻ chậm lại là người học không còn tìm được đủ tiếng Anh ở đúng trình độ, thứ tiếng Anh mà họ hiểu và vẫn còn đủ ngôn ngữ mới để họ tiếp tục khá lên.

Người lớn học một ngôn ngữ bằng cách hiểu các thông điệp trong ngôn ngữ đó, qua nghe và đọc, đúng thứ mà Stephen Krashen gọi là "Comprehensible Input" (đầu vào dễ hiểu) (Krashen, 1982). Tài liệu cho người mới cung cấp điều này rất dễ. Những bài học chậm và hội thoại đơn giản cho người mới rất nhiều tiếng Anh để hiểu.

Rồi tài liệu cho người mới hết. Nội dung làm cho người bản ngữ, như phim, tin tức và hội thoại nhanh, vẫn còn quá khó. Người học trung cấp hiểu 40 phần trăm một podcast còn cách rất xa mức 85 đến 95 phần trăm cần có để việc học diễn ra. Người học ở giai đoạn này chủ yếu nghe và đọc thứ tiếng Anh mà họ không hiểu nổi.

Một nguồn khó khăn khác là người học trung cấp thường nhận ra được nhiều từ hơn hẳn số từ họ thật sự dùng được. Khoảng cách lớn nhất rơi đúng vào những từ cần để lên trình độ cao cấp (Webb, 2008). Người học hiểu những từ đó trong một bài đọc, nhưng chưa biết chúng đủ rõ để dùng khi nói và viết.

Người học dừng lại ở "vùng chững trung cấp" vì họ không nhận đủ tiếng Anh mà mình hiểu được và trong đó có vừa đủ ngôn ngữ mới để họ tiếp tục đi lên.

"Luyện" nói nhiều hơn có đưa bạn lên trình độ cao cấp không?

Nói là kết quả của việc nhận thêm Comprehensible Input (Krashen, 1998). "Luyện" nói nhiều hơn sẽ không cải thiện độ trôi chảy, vì nói là "Output" (đầu ra, thứ đi ra khỏi não) còn thứ bạn cần là thêm "Input" (đầu vào, thứ đi vào não).

Phần lớn trường học, ứng dụng và gia sư khuyên ngược lại. Họ bảo người học trung cấp đã ngừng tiến bộ hãy tìm một người bạn hội thoại và bắt đầu nói. Thế nhưng ép mình nói trước khi sẵn sàng không nâng được trình độ, và các nghiên cứu về luyện "Output" cũng không cho thấy hướng này giúp cải thiện độ trôi chảy (Krashen, 1998, và Krashen, 2003).

Độ trôi chảy khi nói phụ thuộc một phần vào "vốn từ chủ động" của bạn, tức những từ bạn dùng được khi nói (Tong, Hasim, & Abdul Halim, 2022, và Uchihara & Saito, 2019). Vốn từ chủ động tăng lên khi bạn gặp lại các từ nhiều lần trong Comprehensible Input. Để nhận ra một từ mới một cách chắc chắn cần khoảng 10 đến 15 lần gặp trong những gì bạn nghe và đọc (Pellicer-Sánchez & Schmitt, 2010), còn để nói ra được từ đó thì cần nhiều lần gặp hơn số cần để chỉ nhận ra nó (Webb, 2007).

Làm sao vượt qua vùng chững trung cấp?

Bạn vượt qua vùng chững bằng cách nhận lượng lớn tiếng Anh mà mình hiểu được, trong hàng trăm giờ, suốt một quãng thời gian dài (Green, 2022). Chừng nào bạn còn nhận được tiếng Anh ở mức mình hiểu và trong đó vẫn còn điều mới để học, trình độ của bạn sẽ còn lên (Krashen, 1985).

Những người học lên tới trình độ cao cấp đều tìm được tài liệu họ hiểu phần lớn và tiếp tục nghe, đọc nó suốt nhiều tháng. Những người ở lại giai đoạn trung cấp thường nghe tài liệu cao hơn mức đó rất nhiều, hoặc học quy tắc ngữ pháp và danh sách từ, hoặc làm cả hai. Học quy tắc và danh sách từ không cho bạn thứ tiếng Anh dễ hiểu mà việc học ngôn ngữ đòi hỏi (Krashen, 1985).

Hôm nay bạn làm được gì?

Hãy thử bất kỳ file âm thanh tiếng Anh nào bạn đang dùng. Nếu bạn hiểu chưa tới khoảng 85 phần trăm, hãy đổi sang thứ dễ hơn. Tài liệu dễ hơn mà bạn thật sự hiểu cho não bạn nhiều hơn hẳn tài liệu quá khó.

Dr. Lucy Tse và tôi thiết kế Unlimited English đúng cho giai đoạn này, với hơn 1.800 bài học âm thanh nói rõ ràng ở mức người học trung cấp hiểu được, mỗi bài kèm một Learning Guide đầy đủ. Toàn bộ phần khoa học nằm ở trang nghiên cứu của chúng tôi.

~ Dr. Jeff McQuillan, từ Los Angeles, California xinh đẹp

Nghiên cứu chọn lọc

  1. Draper, J. B., & Hicks, J. H. (2002). Foreign language enrollments in public secondary schools, fall 2000. American Council on the Teaching of Foreign Languages.
  2. Dupuy, B., & Krashen, S. D. (1998). Survival of the fittest: "Surviving" post-secondary foreign language programs. Mosaic, 5(2), 19-22.
  3. Furman, N., Goldberg, D., & Lusin, N. (2007). Enrollments in languages other than English in United States institutions of higher education, fall 2006. Modern Language Association.
  4. Green, C. (2022). Extensive reading for a 9,000-word vocabulary: Evidence from corpus modeling. Reading in a Foreign Language, 34(2), 232-248.
  5. Krashen, S. D. (1982). Principles and practice in second language acquisition. Pergamon.
  6. Krashen, S. D. (1985). The input hypothesis: Issues and implications. Longman.
  7. Krashen, S. D. (1998). Comprehensible output? System, 26(2), 175-182.
  8. Krashen, S. D. (2003). Explorations in language acquisition and use: The Taipei lectures. Heinemann.
  9. McQuillan, J. (2019). And then there were none? Measuring the success of commercial language courses. International Journal of Foreign Language Teaching, 8(1), 2-5.
  10. Nielson, K. B. (2011). Self-study with language learning software in the workplace: What happens? Language Learning & Technology, 15(3), 110-129.
  11. Pellicer-Sánchez, A., & Schmitt, N. (2010). Incidental vocabulary acquisition from an authentic novel: Do Things Fall Apart? Reading in a Foreign Language, 22(1), 31-55.
  12. Tong, Y., Hasim, Z., & Abdul Halim, H. (2022). The impact of L2 vocabulary knowledge on language fluency. Pertanika Journal of Social Sciences & Humanities, 30(4), 1723-1751.
  13. Tse, L. (2000). Student perceptions of foreign language study: A qualitative analysis of foreign language autobiographies. Modern Language Journal, 84(1), 69-84.
  14. Uchihara, T., & Saito, K. (2019). Exploring the relationship between productive vocabulary knowledge and second language oral ability. The Language Learning Journal, 47(1), 64-75.
  15. Webb, S. (2007). The effects of repetition on vocabulary knowledge. Applied Linguistics, 28(1), 46-65.
  16. Webb, S. (2008). Receptive and productive vocabulary sizes of L2 learners. Studies in Second Language Acquisition, 30(1), 79-95.
Nhận bài học miễn phí