Cần nghe một từ bao nhiêu lần mới học được?

Bạn cần nhìn thấy hoặc nghe một từ mới khoảng 10 đến 15 lần trước khi biết nó đủ rõ để hiểu khi có người dùng nó (Pellicer-Sánchez & Schmitt, 2010). Còn để tự bạn dùng được từ đó khi nói và viết thì thường phải gặp nó nhiều lần hơn thế. Đó là lý do trình độ ngôn ngữ của bạn phụ thuộc nhiều đến vậy vào lượng Input (đầu vào, thứ đi vào não) mà bạn nhận được qua đọc và nghe.

Một từ được học ra sao?

Bạn học từ từng chút một sau khi nhìn thấy hoặc nghe chúng trong những ngữ cảnh khác nhau. Bạn gần như không bao giờ học được trọn nghĩa của một từ ngay lần đầu nhìn thấy. Thay vào đó, mỗi lần gặp nó bạn học được một phần nhỏ nghĩa của từ ấy (Frishkoff, Collins-Thompson, Perfetti, & Callan, 2008, và McQuillan & Ediger, 2018).

Lấy ví dụ từ bịa ra "wug". Nếu bạn đọc câu "Có một con wug", thật ra bạn chưa biết mấy về nó. Tiếp theo bạn đọc câu "Con wug ở trên giường". Bây giờ bạn có thể đoán wug là danh từ, một thứ có thể thấy trong nhà. Sau đó bạn thấy câu "Con wug đi ngang qua phòng". Lúc ấy bạn biết wug nhiều khả năng là người hoặc con vật.

Khi bạn tiếp tục thấy "wug" trong những câu khác nhau, bạn có thêm một chút nghĩa của nó. Sau khi thấy "wug" được dùng rõ ràng trong khoảng 10 đến 15 câu, bạn sẽ học được nghĩa của nó, nhiều khả năng còn không nhận ra.

Qua những lần gặp từ bịa ra
Hình 1. Qua những lần gặp lại từ bịa ra "wug" trong các câu rõ nghĩa, nghĩa của nó rõ dần sau mỗi lần. Một từ được học từng chút một.

Thật ra bạn cần bao nhiêu lần gặp?

Ana Pellicer-Sánchez và Norbert Schmitt (2010) đề nghị một nhóm người học đọc trọn một cuốn tiểu thuyết có chứa những từ họ chưa biết. Sau đó, hai nhà nghiên cứu kiểm tra người học trên vài từ mới trong số ấy để xem đã học được bao nhiêu. Càng thấy từ đó nhiều lần, khả năng nhớ được càng cao. Họ phát hiện sau 10 đến 15 lần gặp, người học đã biết từ đủ rõ để nhận ra nghĩa khi đọc hoặc khi nhìn thấy.

0% 25% 50% 75% 100% Tỷ lệ từ đã biết Số lần từ xuất hiện trong sách Một lần 2–4 lần 5–8 lần 10–17 lần 28+ lần Nhận ra nghĩa: 87% Nhớ lại: 61% Nhận ra Nhớ lại
Hình 2. Pellicer-Sánchez và Schmitt (2010) kiểm tra người học sau khi họ đọc xong cuốn tiểu thuyết. Một từ xuất hiện trong tiểu thuyết càng nhiều lần, người học càng hiểu được nhiều từ như thế.

Việc bạn nhận ra một từ và biết nghĩa của nó trong câu khi đọc hay nghe không có nghĩa là bạn dùng được chính từ ấy khi nói hoặc viết. Stuart Webb (2007) đưa cho một nhóm người học các câu trong đó một từ xuất hiện một, ba, bảy hoặc 10 lần. Ông kiểm tra cả khả năng nhận ra nghĩa của từ lẫn khả năng dùng chúng. Trong mọi trường hợp, điểm nhận ra của người học đều cao hơn điểm "chủ động", tức điểm dùng từ. Chẳng hạn, người học nhận ra cách viết đúng của 88 phần trăm số từ, nhưng chỉ đưa ra được chính từ đó cho một nghĩa cho sẵn trong 29 phần trăm số lần.

Webb kết luận rằng thấy một từ 10 lần tạo ra bước tiến lớn trong việc nhận ra từ, nhưng chưa đủ để học từ đó đủ rõ cho người học dùng được. Chúng ta chưa có con số chính xác về số lần cần nhìn thấy hoặc nghe một từ để dùng được nó, nhưng rõ ràng nó cao hơn nhiều so với số lần cần để hiểu từ đó khi đọc và nghe.

Ngữ cảnh mà bạn gặp từ mới có ý nghĩa quan trọng. Bạn sẽ học một từ nhanh hơn nếu ngữ cảnh cho bạn nhiều thông tin hơn về nó. Điều này giải thích vì sao số lần gặp cần để học một từ lại khác nhau. Chỉ nhìn thấy từ đó 10 đến 15 lần mà không có ngữ cảnh thì không có tác dụng. Một phần vì lý do đó mà thẻ từ vựng không thật sự giúp bạn tiến bộ.

Vậy có nên học thuộc danh sách từ không?

Nhiều "người có ảnh hưởng" nổi tiếng trên mạng, và cả một số nhà nghiên cứu ngôn ngữ, khuyên bạn học thuộc lòng để nhớ từ mới. Nhưng các nghiên cứu khoa học cho thấy rõ rằng những từ bạn học thuộc bằng thẻ và danh sách không thật sự cải thiện khả năng hiểu ngôn ngữ (Tuinman & Brady, 1974, Pany & Jenkins, 1978, Hudson, 1982, Pany, Jenkins, & Schreck, 1982, và Jahangard, Moinzadeh, & Karimi, 2011). Học thuộc lòng chỉ cho bạn hiểu biết "nông", ở bề mặt nghĩa của một từ.

Để hiểu và tạo ra ngôn ngữ, bạn cần có hiểu biết "sâu" về một từ, và điều đó chỉ đến từ việc nhìn thấy và nghe các từ trong những ngữ cảnh khác nhau. Để tăng vốn từ, bạn phải nhận được "Comprehensible Input" (đầu vào dễ hiểu) có chứa từ mới cho bạn học (Krashen, 1985).

Hôm nay bạn nên làm gì?

Hãy chọn tài liệu nghe và đọc mà bạn hiểu được phần lớn, về những chủ đề bạn thích, và lấy thật nhiều. Mười đến mười lăm lần gặp sẽ tự đủ khi bạn gặp lại cùng những từ ấy trong tài liệu mà bạn hiểu.

Dr. Lucy Tse và tôi xây Unlimited English quanh nghiên cứu này, với hơn 1.800 bài học âm thanh lặp lại những từ hội thoại hữu ích nhất, mỗi bài kèm một Learning Guide đầy đủ. Toàn bộ phần khoa học nằm ở trang nghiên cứu của chúng tôi.

~ Dr. Jeff McQuillan, từ Los Angeles, California xinh đẹp

Nghiên cứu chọn lọc

  1. Frishkoff, G. A., Collins-Thompson, K., Perfetti, C., & Callan, J. (2008). Measuring incremental changes in word knowledge: Experimental validation and implications for learning and assessment. Behavior Research Methods, 40(4), 907-925.
  2. Hudson, T. (1982). The effects of induced schemata on the "short circuit" in L2 reading: Non-decoding factors in L2 reading performance. Language Learning, 32(1), 1-31.
  3. Jahangard, A., Moinzadeh, A., & Karimi, A. (2011). The effect of grouping and presenting selected TOEFL words on the vocabulary learning of EFL learners. Iranian EFL Journal, 7(2), 220-235.
  4. Krashen, S. D. (1985). The input hypothesis: Issues and implications. Longman.
  5. McQuillan, J., & Ediger, W. (2018). The Markov Estimation of Semantic Association (MESA): Good for vocabulary measurement, ineffective for vocabulary teaching. The Reading Matrix, 18(1), 27-40.
  6. Pany, D., & Jenkins, J. R. (1978). Learning word meanings: A comparison of instructional procedures. Learning Disability Quarterly, 1(2), 21-32.
  7. Pany, D., Jenkins, J. R., & Schreck, J. (1982). Vocabulary instruction: Effects on word knowledge and reading comprehension. Learning Disability Quarterly, 5(3), 202-215.
  8. Pellicer-Sánchez, A., & Schmitt, N. (2010). Incidental vocabulary acquisition from an authentic novel: Do Things Fall Apart? Reading in a Foreign Language, 22(1), 31-55.
  9. Tuinman, J. J., & Brady, M. E. (1974). How does vocabulary account for variance on reading comprehension tests? A preliminary instructional analysis. In P. Nacke (Ed.), Interaction: Research and practice for college-adult reading (pp. 176-184). National Reading Conference.
  10. Webb, S. (2007). The effects of repetition on vocabulary knowledge. Applied Linguistics, 28(1), 46-65.
Nhận bài học miễn phí